29/04/2011

Bảo vệ chủ quyền không thể chỉ nói chay

Phương Loan

imageĐây là một trong quá quá nhiều sự thật đáng buồn! Theo em thì, làm được điều này cũng như nhiều điều khác, phải chăng khi và chỉ khi Đảng, Nhà nước của “người anh cả láng giềng” cho phép? - Nguyễn Huỳnh Thuật (cộng tác viên BVN).

Bốn khuyến nghị (Xã hội hóa, Công khai hóa, Quốc tế hóa và Phi nhạy cảm hóa) đưa ra trong Hội thảo về Biển Đông hai năm trước thực chất là khuyến nghị đối với Nhà nước.

Cũng hai năm trước, báo Du lịch số Xuân đăng bài khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì ngay lập tức Bộ trưởng Lê Doãn Hợp ký quyết định đình bản, quy kết "lãnh đạo báo Du lịch đã không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp và nhạy cảm".

Thái độ của Nhà nước đối với Biển Đông nay đã bớt rụt rè hơn; về vấn đề này, báo chí đã được cởi mở hơn. Nhưng về mặt nghiên cứu, cần phải có một chương trình trọng điểm cấp nhà nước về Biển Đông. Trên các tập san khoa học quốc tế, số lượng bài viết của các học giả Việt Nam hầu như vắng mặt. Điều đó đồng nghĩa là chúng ta đã nhường diễn đàn cho học giả Trung Quốc. Trong một thời gian ngắn, Trung Quốc có đến 36 luận án Tiến sĩ về Biển Đông, mà Việt Nam thì hình như chỉ độc có luận án của Nguyễn Nhã. Chúng ta có lẽ phải, nhưng giới học giả quốc tế vẫn còn ít người biết đến công trình của ta, chứng cứ chủ quyền của ta. Như thế, ta tranh thủ sự đồng tình của công chúng trên thế giới trên cơ sở nào?

“Bảo vệ chủ quyền không thể nói chay”. Chúng ta dám ký hợp đồng mua 12 chiếc máy bay chiến đấu đa chức năng Su-30MK2 Flanker của Nga, trị giá hơn 500 triệu USD, mà không đủ quyết tâm dành một phần mười hoặc một phần mười lăm kinh phí ấy cho việc nghiên cứu Biển Đông hay sao?

Cần nhớ tác dụng của các công trình khoa học có khi còn hơn súng đạn.

Bauxite Việt Nam

Đọc bản dịch tiếng Trung một phần tài liệu nghiên cứu của TS Hãn Nguyên Nguyễn Nhã về Biển Đông trong phụ lục tham khảo đề tài khóa luận của cô sinh viên người Việt tại Đài Loan, vị Giáo sư người Hoa phải thốt lên: Tôi không ngờ sự thực lịch sử lại như vậy!

Đáng tiếc, đó lại là phút hạnh phúc không thường gặp, bởi đây là tài liệu hiếm hoi được chuyển ngữ.

Không ít công trình nghiên cứu công phu của Việt Nam đành chỉ dành cho người Việt, bởi không có kinh phí và nhân lực chuyển tải sang tiếng Anh, tiếng Pháp, hay tiếng Trung.

Lại nữa, dày công nghiên cứu để có một công trình khoa học về Biển Đông được giải thưởng quốc tế, được giới khoa học nước ngoài trích dẫn, thế nhưng đứa con tinh thần của TS Nguyễn Hồng Thao sau thời gian dài vẫn chưa được cho chào đời tại Việt Nam.

clip_image002

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan và TS Nguyễn Nhã trao đổi tại hội thảo. Ảnh: Phương Loan

Bản thảo đề tài nghiên cứu bằng tiếng Pháp của ông sau nhiều năm dịch sang tiếng Việt vẫn đợi một nhà xuất bản đủ dũng cảm dám in.

Có tài liệu quý mà không biết để xài là niềm trăn trở của nhiều học giả tại Hội thảo quốc gia lần 2 về vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao tổ chức ngày 26/4.

“Chúng ta đã có website về nghiên cứu Biển Đông (nghiencuubiendong.vn) thế nhưng chưa có một tài liệu nào được dịch ra tiếng Trung để đưa lên, bởi nhân sự mỏng quá, làm không nổi”, một thành viên của chương trình nghiên cứu Biển Đông chia sẻ.

Vấn đề chủ quyền lãnh thổ, theo các học giả, không thể nói chay mà được.

“Nếu xem dư luận về vấn đề Biển Đông là một tờ giấy, thì lâu nay, chúng ta đã để mặc tờ giấy trắng cho nước khác thích vẽ gì thì vẽ. Dư luận thế giới vì thế một chiều, thiếu khách quan và bất lợi cho Việt Nam”, một học giả nói.

Tình hình khu vực, quốc tế và vấn đề Biển Đông đang thay đổi cực kì mau lẹ, mà Việt Nam vẫn “còn ngổn ngang trăm mối”, từ chuyện bản đồ, hệ thống tư liệu, chứng cứ lịch sử, căn cứ pháp lý đến vấn đề con người…

Nhiều bước chuyển

Hai năm sau Hội thảo mở đầu tiên về vấn đề Biển Đông được tổ chức tại Hà Nội, ngày 26/4, gần 80 học giả Việt Nam đã cùng ngồi lại, thảo luận về tình hình Biển Đông, đánh giá những bước chuyển trong cục diện và điều chỉnh quan điểm của các bên và đưa ra các khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.

Đã bớt những dè dặt, nghi ngại khi thảo luận về vấn đề Biển Đông của 2 năm trước, các học giả đã cởi mở và thẳng thắn mổ xẻ những chuyển biến nhanh chóng của tình hình Biển Đông.

clip_image003

Tàu chuẩn bị vào đảo Đá Đông, quần đảo Trường Sa. Ảnh: Chu Thanh Vân

Những diễn biến đặc biệt mau lẹ với một loạt động thái của các bên tuyên bố chủ quyền cũng như các quốc gia có lợi ích liên quan ở Biển Đông: sự kiện tàu Impeccable, việc Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa, Trung Quốc lần đầu tiên công khai yêu sách đường lưỡi bò, Indonesia gửi công hàm phản đối, ARF 17 với việc 14/27 nước phát biểu về Biển Đông... và mới đây nhất là việc tàu Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Philippines dẫn tới việc Philippines gửi công hàm phản đối…

Vấn đề Biển Đông từ chỗ chỉ là tranh chấp giữa các nước trong khu vực đã trở thành một trong những vấn đề quốc tế. Không cần quốc tế hóa, bản thân vấn đề Biển Đông đã tự nó quốc tế hóa. Thế giới ngày càng quan tâm đến việc gìn giữ an ninh, ổn định và thịnh vượng ở Biển Đông và khu vực. Các nước lớn đã có nhiều điều chỉnh trong chính sách Biển Đông, đặc biệt là Hoa Kỳ.

Không chỉ loanh quanh trên bàn thảo luận của của ASEAN hay ASEAN với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông nay được đem ra bàn thảo ở những diễn đàn đa phương quốc tế, thậm chí trở thành đề tài ở Liên hiệp quốc.

Ở bình diện ASEAN, vấn đề Biển Đông cũng thay đổi, trở thành vấn đề khá nổi bật trong chương trình nghị sự của ASEAN, thể hiện rõ quyết tâm chuyển từ Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) sang Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC).

Trong khi Trung Quốc ngày càng quyết đoán thì các nước ASEAN cũng ngày càng tự tin, có lập trường ngày một rõ ràng về hoạt động của các bên liên quan trên Biển Đông và các vấn đề ở Biển Đông.

Hơn nữa, lập trường của Trung Quốc cũng đã có nhiều thay đổi. Thay vì né tránh viện dẫn Công ước về Luật biển 1982 như trước kia, nay dường như Trung Quốc có xu hướng sử dụng Công ước về Luật biển nhiều hơn. Các hành vi ngoại giao cũng như hành vi trên thực địa của Trung Quốc cũng có những thay đổi.

Ngay quá trình đàm phán về vấn đề Biển Đông cũng bắt đầu có nhiều chuyển biến khi các nước bắt đầu đàm phán trực tiếp về COC, sau thời gian dài trì trệ, 10 năm với chỉ 5 cuộc họp về DOC và không thúc đẩy được gì nhiều.

Công khai và thực chất hơn

Hai năm qua, theo các học giả, Việt Nam cũng đã có chuyển biến quan trọng trong tư duy, chính sách và các biện pháp bảo vệ chủ quyền biển đảo và giữ ổn định tình hình Biển Đông.

Một học giả dẫn lời TS. Ian Storey từ Viện Nghiên cứu ĐNA của Singapore, cho rằng, chính sách Biển Đông của Việt Nam hơn 2 năm qua là tổ hợp các hướng: đàm phán song phương với Trung Quốc, khu vực hóa thông qua thúc đẩy ASEAN trong vấn đề DOC và Biển Đông, quốc tế hóa vấn đề bao gồm tạo đan xen lợi ích quốc tế, nộp báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa và tổ chức hội thảo khoa học quốc tế và hiện đại hóa quân đội nhằm hỗ trợ cho ngoại giao.

Với các học giả tham dự hội thảo, tuy chưa thể định danh cụ thể bước chuyển đó ra sao, nhưng là người trong cuộc, họ đều cảm nhận được rõ ràng những thay đổi ấy.

clip_image004

Ảnh: Chu Thanh Vân

Chỉ xét riêng trong giới học thuật, hai năm qua, các ý kiến cực đoan về Biển Đông không còn nữa. Số bài viết về Biển Đông tăng lên gấp bội. Số người nói công khai về những vấn đề xảy ra ở Biển Đông cũng tăng lên nhiều lần.

Khuyến nghị 4 hóa: Xã hội hóa, Công khai hóa, Quốc tế hóa và Phi nhạy cảm hóa được đưa ra từ Hội thảo về Biển Đông 2 năm trước đang đi vào thực tế, dù vẫn có những phàn nàn về việc thiếu thông tin, mập mờ giữa mật hay không mật.

Nếu như trước năm 2008, hàng năm ở khu vực ĐNA chỉ có Hội thảo kiểm soát xung đột ở Biển Đông tại Indonesia và một số ít hội thảo nhưng chỉ bàn về hợp tác, thì nay, số hội thảo về Biển Đông tăng nhanh. Không chỉ Việt Nam, trong năm 2010, các nước Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Indonesia và Singapore đều tổ chức hội thảo quốc tế về Biển Đông.

Không chỉ mang tính thăm dò, các hội thảo đã đi vào bàn nội dung thực chất của vấn đề Biển Đông, nhìn từ nhiều khía cạnh, cả lịch sử, pháp lý, quan hệ quốc tế và các khía cạnh khác.

Dũng cảm tăng tốc

Tạm ghi nhận những nỗ lực thời gian qua, các học giả cho rằng đã đến lúc Việt Nam phải dũng cảm tăng tốc trong công tác nghiên cứu cũng như triển khai liên quan đến Biển Đông.

Nhìn sang nước láng giềng Trung Quốc, trong thời gian ngắn, nước bạn đã có thêm 36 luận án Tiến sĩ liên quan đến Biển Đông, trong đó 20 luận án được làm tại nước ngoài.

Hiện Trung Quốc cũng đã có một chuyên gia luật quốc tế đang là Thẩm phán trong Tòa án Công lý Quốc tế, một chuyên gia hàng hải thuộc nhóm 21 Thẩm phán tại Tòa án quốc tế về luật Biển, một chuyên gia khác là thành viên của UB về ranh giới thềm lục địa. Trung Quốc còn tham gia ba tổ chức khu vực được thiết lập nhằm bảo vệ môi trường biển tại các vùng biển chung ở Đông Á. Trung Quốc còn là thành viên của UB nghề cá Tây và Trung Thái Bình Dương.

Không tăng tốc, chúng ta sẽ khó bắt nhịp với bước chuyển của thực tế đang diễn ra đặc biệt mau lẹ, một học giả lưu ý. Phải nghiên cứu cho sâu, đào cho kĩ tài liệu, mài cho sắc lập luận… Việc nghiên cứu hiện nay mới chỉ như muối bỏ bể.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, đi đôi với việc tiếp tục sưu tầm, hoàn chỉnh các tài liệu gốc, Việt Nam cần dịch tài liệu sang các thứ tiếng và quảng bá rộng rãi các tài liệu, cùng với đó là phải chỉnh sửa và bổ sung các thông tin chưa chính xác hay còn thiếu.

Song song với việc củng cố lập luận của Việt Nam, việc nghiên cứu cơ sở pháp lý của các nước liên quan trong tranh chấp cũng quan trọng và có vai trò tương đương. Do vậy, cần phải rà soát lịch sử, các tư liệu, bản đồ của các nước có liên quan một cách hệ thống, khoa học và khách quan.

Và quan trọng hơn, các sản phẩm nghiên cứu phải được công khai cho dư luận thế giới.

Nói như TS Nguyễn Nhã, để bảo vệ chủ quyền, ông và mỗi người Việt Nam “phải có cho mình một kế hoạch nhỏ”.

Có lẽ, phải nói thêm, các kế hoạch nhỏ ấy phải có sự liên kết, kết nối với nhau, trong một sự phân vai trên cơ sở thống nhất về hướng đi.

P.L.

Nguồn: Vietnamnet.vn